Bài thuốc trị sỏi tiết niệu
Nguyên nhân chủ yếu do thấp nhiệt uất kết, thận hư, khí hư. Bệnh khá thường gặp ở nước ta. Người bệnh có biểu hiện đau lưng, tiểu tiện ra máu, khó tiểu tiện...
Nguyên nhân chủ yếu do thấp nhiệt uất kết, thận hư, khí hư. Bệnh khá thường gặp ở nước ta. Người bệnh có biểu hiện đau lưng, tiểu tiện ra máu, khó tiểu tiện...
Điều trị sỏi tiết niệu bằng thuốc y học cổ truyền có kết quả tốt, tuy nhiên chủ yếu được chỉ định trong các trường hợp: kích thước sỏi nhỏ, sỏi nhẵn; chức năng của thận bình thường; không có biến chứng chít hẹp đường niệu, ứ nước đài bể thận...; chống tái phát; bệnh nhân không chịu nổi phẫu thuật vì tuổi cao, thể trạng suy yếu... Sau đây là một số bài thuốc trị theo từng thể.
Hải kim sa - vị thuốc trong bài ”Tam kim bài thạch thang” trị sỏi tiết niệu thể bàng quang thấp nhiệt.
Bàng quang thấp nhiệt: Nguyên nhân do ăn nhiều thức ăn cay, nóng, béo, ngọt; hoặc nghiện rượu lâu ngày gây thấp nhiệt, thấp nhiệt lâu ngày làm cho cặn trong nước tiểu tụ thành sỏi. Người bệnh tiểu ra máu, kèm theo đau quặn bụng, tiểu nhiều lần, tiểu buốt, miệng đắng họng khô, bụng dưới tức trướng; chất lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch huyền hoạt. Dùng bài Tam kim bài thạch thang: kim tiền thảo 30g; kê nội kim, thạch vĩ, hổ phách, xuyên ngưu tất, mỗi vị 12g; hải kim sa 15g; cam thảo 5g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần, mỗi lần 1 bát, uống ấm, trước hoặc sau ăn 1 giờ.
Gia giảm: Nếu tiểu ra máu thêm cỏ nhọ nồi 16g, tiểu kế 12g; đau nhiều thêm ô dược 8g, diên hồ sách 8g, uất kim 8g; rêu lưỡi vàng dày gia hoàng bá, thương truật 10g; miệng khát gia sinh địa, thạch hộc; đau lưng nhiều gia đỗ trọng, cẩu tích 12g. Nếu bệnh đã mắc trên 3 tháng gia vương bất lưu hành 12g, tạo giác thích 8g.
Thể khí trệ huyết ứ: Người bệnh đau thắt lưng, đau bụng dữ dội, đau lan xuống vùng hạ vị, đến vùng bẹn và cơ quan sinh dục; tiểu buốt, dắt, nước tiểu vàng đôi khi lẫn máu máu; chất lưỡi đỏ thẫm, có điểm ứ huyết; mạch huyền hoặc huyền sác. Dùng bài Thạch vĩ tán + Tứ vật đào hồng gia giảm: đào nhân, xuyên khung, ngưu tất, kê nội kim, trạch tả, thạch vĩ, ô dược, đông quỳ tử, mỗi vị đều 12g; hồng hoa, đương quy, xuyên luyện tử đều 9g; kim tiền thảo 30g; hải kim sa, hoạt, xa tiền tử đều 15g; cam thảo 5g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần, mỗi lần 1 bát, uống ấm, trước hoặc sau ăn 1 giờ.